ĐỊNH HƯỚNG NỘI DUNG THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI GIAI ĐOẠN 2026 -2030
Giai đoạn 2026-2030 là giai đoạn bản lề trong tiến trình chuyển đổi Chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM) từ “đạt chuẩn” sang “hiện đại, bền vững”. Trong tổng thể chủ trương hợp nhất 03 Chương trình MTQG giai đoạn 2026-2035, Chương trình NTM tiếp tục giữ vai trò trụ cột trong phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, gắn chặt với giảm nghèo bền vững và phát triển vùng đồng bào DTTS&MN. Định hướng giai đoạn 2026-2030 phải quán triệt yêu cầu phát triển xanh, bao trùm, chuyển đổi số, thích ứng biến đổi khí hậu, nâng cao chất lượng sống và năng lực tự chủ của cộng đồng dân cư nông thôn.
Giai đoạn 2026-2030 là giai đoạn bản lề trong tiến trình chuyển đổi Chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM) từ “đạt chuẩn” sang “hiện đại, bền vững”. Trong tổng thể chủ trương hợp nhất 03 Chương trình MTQG giai đoạn 2026-2035, Chương trình NTM tiếp tục giữ vai trò trụ cột trong phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, gắn chặt với giảm nghèo bền vững và phát triển vùng đồng bào DTTS&MN. Định hướng giai đoạn 2026-2030 phải quán triệt yêu cầu phát triển xanh, bao trùm, chuyển đổi số, thích ứng biến đổi khí hậu, nâng cao chất lượng sống và năng lực tự chủ của cộng đồng dân cư nông thôn.
Theo Báo cáo Đề xuất chủ trương đầu tư Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035 của Chính phủ mới trình Quốc hội (Tờ trình số 1101/TTr-CP ngày 30/11/2025), Chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 bao gồm các nội dung cơ bản sau:
1. Quan điểm phát triển xuyên suốt
Chương trình NTM giai đoạn 2026-2030 được xây dựng trên cơ sở một số quan điểm lớn: xây dựng NTM là nhiệm vụ chiến lược lâu dài, liên tục; phát triển theo chiều sâu, thực chất và bền vững; gắn chặt với cơ cấu lại nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn đa giá trị, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và kinh tế số; bảo đảm phát triển bao trùm, không để ai bị bỏ lại phía sau; ưu tiên vùng khó khăn, vùng đồng bào DTTS&MN, bãi ngang ven biển, biên giới, hải đảo; đồng thời huy động tổng hợp và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực xã hội, cụ thể:
- Đầu tư phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn là đầu tư cho phát triển bền vững quốc gia, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh, bao trùm và bền vững, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền, giữa các nhóm dân tộc, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và bảo đảm ổn định xã hội - quốc phòng - an ninh lâu dài.
- Bảo đảm phát triển bao trùm và bền vững, lấy người dân làm trung tâm và chủ thể của quá trình phát triển. Trung ương hỗ trợ, còn cấp ủy, chính quyền và người dân trực tiếp bàn bạc, lựa chọn, tổ chức thực hiện và giám sát. Việc triển khai Chương trình phải có sự liên kết với việc triển khai thực hiện để bảo đảm nguyên tắc tránh trùng lặp về địa bàn, chính sách, đồng thời gắn kết chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả giữa xây dựng NTM, GNBV và phát triển KTXH vùng đồng bào DTTS coi đây là những mục tiêu không thể tách rời của Chương trình; đồng thời gắn với các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) và định hướng Bộ tiêu chuẩn dùng để đánh giá mức độ phát triển bền vững và trách nhiệm của doanh nghiệp (ESG), hướng tới phát triển toàn diện, tiến bộ, công bằng xã hội, không để ai bị bỏ lại phía sau.
- Phát triển nông thôn theo hướng hiện đại, thông minh, gắn với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa; chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Thực hiện hài hòa giữa phát triển kinh tế - phát triển văn hóa, xã hội - bảo vệ môi trường sinh thái, kết hợp chặt chẽ giữa đầu tư hạ tầng - nâng cao chất lượng đời sống - giữ gìn bản sắc văn hóa. Quy hoạch nông thôn, đặc biệt là quy hoạch xã, phải “đi trước một bước”, làm nền tảng xác định thứ tự ưu tiên, phân bổ vốn và triển khai đầu tư, tránh tình trạng dàn trải, manh mún, không gắn với nhu cầu và định hướng phát triển không gian.
- Tăng cường ứng dụng khoa học - công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và đẩy mạnh chuyển đổi số trong phát triển kinh tế nông thôn, xây dựng NTM. Chuyển đổi số cần được xác định là công cụ xuyên suốt và trọng tâm, góp phần nâng cao hiệu quả chỉ đạo điều hành, thúc đẩy minh bạch dữ liệu, giám sát trực tuyến theo thời gian thực, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, phát triển thương mại điện tử và cung cấp dịch vụ thiết yếu cho người dân nông thôn tiệm cận với đô thị.
- Thực hiện Chương trình theo hướng quản trị đa mục tiêu, tích hợp và phân quyền mạnh cho địa phương; bảo đảm huy động, phân bổ và sử dụng hợp lý, hiệu quả các nguồn lực, đồng thời kết nối chặt chẽ với các chương trình, dự án, chính sách phát triển khác để tránh trùng lặp, dàn trải, nâng cao hiệu quả tổng thể. Trung ương tập trung xây dựng Chương trình khung, ban hành hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn, định mức và phân bổ nguồn lực; địa phương chủ động, linh hoạt tổ chức thực hiện theo thẩm quyền, phù hợp với điều kiện thực tiễn và phát huy tối đa vai trò của người dân, doanh nghiệp, hợp tác xã, cộng đồng xã hội trong quá trình triển khai, thực hiện và giám sát.
- Chương trình phải thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế nông thôn và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước, theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh”.
2. Mục tiêu đến năm 2030:
a) Mục tiêu tổng quát:
Xây dựng nông thôn mới hiện đại, thực chất, gắn với đô thị hóa và thích ứng biến đổi khí hậu; phát triển kinh tế nông thôn theo hướng xanh, tuần hoàn, sinh thái, gắn với tái cơ cấu nông nghiệp, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo; phát huy vai trò chủ thể của người dân, cộng đồng và các thành phần kinh tế; bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội, nhất là vùng chiến lược, biên giới, hải đảo.
b) Mục tiêu cụ thể:
- Thu nhập bình quân của người dân nông thôn năm 2030 tăng gấp 2,5-3 lần so với năm 2020. Trong đó, thu nhập bình quân của người DTTS bằng 2/3 bình quân chung của cả nước.
- Tỷ lệ nghèo đa chiều của cả nước duy trì mức giảm từ 1 đến 1,5%/năm, phấn đấu tỷ lệ hộ nghèo đa chiều vùng DTTS và MN xuống dưới 10%; tỷ lệ nghèo đa chiều ở xã nghèo giảm ít nhất 3%/năm.
- Phấn đấu có khoảng 65% số xã đạt chuẩn NTM; 10% số xã đạt chuẩn NTM hiện đại theo khung thí điểm của trung ương và các tiêu chí cụ thể do UBND cấp tỉnh ban hành. Cả nước có từ 04-05 tỉnh, thành phố được công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM theo Bộ tiêu chí giai đoạn 2026-2030.
3. Nội dung thực hiện Chương trình: Định hướng thực hiện theo 10 nhóm nội dung thành phần.
3.1. Nhóm nội dung 01: Hoàn thiện quy hoạch theo quy định bảo đảm đồng bộ, phù hợp, phát huy lợi thế vùng, miền và phát triển bền vững.
3.2. Nhóm nội dung số 02: Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn toàn diện, đồng bộ, hiện đại, kết nối hiệu quả với đô thị và thích ứng với biến đổi khí hậu.
3.3. Nhóm nội dung số 03: Phát triển kinh tế nông thôn theo hướng sinh thái, hiện đại, tích hợp đa giá trị và thích ứng với thị trường.
3.4. Nhóm nội dung số 04: Đào tạo nguồn nhân lực và hỗ trợ tạo việc làm bền vững.
3.5. Nhóm nội dung số 05: Phát triển toàn diện văn hóa, giáo dục, y tế, thúc đẩy bình đẳng giới.
3.6. Nhóm nội dung 06: Phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số ở nông thôn.
3.7. Nhóm nội dung 07: Xây dựng môi trường và cảnh quan nông thôn xanh, sạch, đẹp, an toàn và thích ứng với biến đổi khí hậu.
3.8. Nhóm nội dung 08: Nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào DTTS và MN.
3.9. Nhóm nội dung 09: Tiếp cận pháp luật và An ninh, Quốc phòng.
3.10. Nhóm nội dung 10: Nâng cao năng lực, truyền thông, giám sát, đánh giá; triển khai hiệu quả phong trào thi đua về xây dựng dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và MN.
4. Định hướng Chương trình xây dựng nông thôn mới tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2026-2030
Trên cơ sở kết quả thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới trong những năm qua và kết quả rà soát, đánh giá thực trạng các xã sau sáp nhập, dự kiến định hướng nội dung thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2026-2030, cụ thể như sau:
4.1. Quan điểm:
- Tiếp tục xác định xây dựng NTM là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị; là quá trình liên tục, có điểm khởi đầu nhưng không có điểm kết thúc.
- Xây dựng NTM phải phát triển toàn diện, bền vững; gắn với cơ cấu lại ngành nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và nâng cao chất lượng đời sống người dân.
- Lấy người dân làm chủ thể, trung tâm trong quá trình triển khai; phát huy vai trò tự chủ, tự quản và sáng tạo của cộng đồng dân cư.
- Bảo đảm nguyên tắc phân cấp, phân quyền rõ ràng; phát huy tính chủ động, sáng tạo của các địa phương; Trung ương, tỉnh tập trung vai trò định hướng, ban hành cơ chế, chính sách và hỗ trợ có mục tiêu.
- Gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng NTM với quá trình đô thị hóa, phát triển vùng nông thôn hiện đại, văn minh; thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền; bảo đảm công bằng xã hội và không ai bị bỏ lại phía sau.
4.2. Mục tiêu: Phấn đấu có 95% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, 10-15% số xã đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại theo khung thí điểm của trung ương và các tiêu chí cụ thể do UBND tỉnh ban hành.
4.3. Một số nhiệm vụ trọng tâm
- Nâng cao chất lượng và tính bền vững của các tiêu chí NTM; chuyển mạnh từ “đạt chuẩn” sang “đạt chuẩn có chất lượng, hiệu quả thực chất”, bảo đảm đời sống người dân được cải thiện rõ rệt cả về vật chất và tinh thần.
- Thúc đẩy chuyển đổi số trong xây dựng NTM; ứng dụng công nghệ số trong quản lý, điều hành và phát triển sản xuất, dịch vụ nông thôn.
- Thực hiện phân loại xã nông thôn theo điều kiện đặc thù để xây dựng lộ trình, giải pháp phù hợp, hiệu quả, tránh dàn trải nguồn lực.
- Tăng cường huy động các nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước, nhất là từ doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân thông qua các hình thức hợp tác công - tư, xã hội hóa đầu tư.
- Ưu tiên hỗ trợ các xã đặc biệt khó khăn, khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, miền núi nhằm bảo đảm công bằng và phát triển bao trùm.
- Lồng ghép hiệu quả các chương trình MTQG và các chương trình, dự án có liên quan để tạo sự đồng bộ, tránh trùng lặp, nâng cao hiệu quả đầu tư.
Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 bước vào thời kỳ phát triển mới với yêu cầu cao hơn về chất lượng, hiệu quả và tính bền vững. Việc tổ chức thực hiện đồng bộ theo 10 nhóm nội dung thành phần, gắn với các mục tiêu lớn như đã được nêu trong Báo cáo Đề xuất chủ trương đầu tư Chương trình MTQG giai đoạn 2026-2035 của Chính phủ trình Quốc hội mới đây sẽ tạo nền tảng vững chắc để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh trong những thập niên tới.
Chi cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên.