Biểu đồ 2. Số hộ nghèo, hộ cận nghèo giảm giai đoạn 2022-2025
Các dự án hỗ trợ phát triển sản xuất đã tạo chuyển biến tích cực ở cơ sở, toàn tỉnh triển khai 642 dự án hỗ trợ phát triển sản xuất với sự tham gia của 13.330 hộ, trong đó có 6.811 hộ nghèo, 3.791 hộ cận nghèo và 2.728 hộ mới thoát nghèo, tập trung hỗ trợ cây, con giống, vật tư, kỹ thuật sản xuất, góp phần thay đổi tư duy sản xuất của người dân, từng bước chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang liên kết, hợp tác, nâng cao giá trị sản phẩm, tạo sinh kế bền vững.
Người lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo có nhu cầu đều được hỗ trợ kết nối, tư vấn, định hướng nghề nghiệp, cung cấp thông tin thị trường lao động và hỗ trợ tìm việc làm. Đến nay, hàng nghìn lao động đã được hỗ trợ kết nối việc làm; nhiều lao động ở các huyện nghèo được đào tạo, tham gia thị trường lao động trong nước và đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Đây là hướng đi quan trọng, giúp hộ nghèo có việc làm, thu nhập ổn định thoát nghèo bền vững.
Các chiều thiếu hụt về dịch vụ xã hội cơ bản cũng từng bước được cải thiện. Người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo được hỗ trợ bảo hiểm y tế; tỷ lệ trẻ em thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo đi học đúng độ tuổi đạt trên 95%; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 71%. Hộ nghèo, hộ cận nghèo được hỗ trợ xây mới, sửa chữa nhà ở, bảo đảm có nhà ở an toàn và ổn định đời sống.
Tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 90,62%; tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo có nhu cầu được tiếp cận, sử dụng dịch vụ viễn thông, internet đạt 80,38%. Đây là những kết quả có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh chuẩn nghèo đa chiều ngày càng nhấn mạnh đến chất lượng sống, khả năng tiếp cận dịch vụ cơ bản và sự tham gia của người dân vào tiến trình phát triển chung.
Khó khăn, thách thức và nguyên nhân
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác giảm nghèo của tỉnh vẫn còn không ít khó khăn, thách thức. Kết quả giảm nghèo ở một số địa phương chưa thật sự bền vững; khoảng cách phát triển giữa các vùng, các địa phương còn lớn, nhất là khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đồng bộ, đời sống người dân còn nhiều khó khăn.
Nguyên nhân: Sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn tuy có chuyển biến nhưng chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của địa phương, chưa chủ động đổi mới phương thức sản xuất, ứng dụng khoa học kỹ thuật; nhận thức của một bộ phận người dân còn hạn chế, vẫn còn tâm lý trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước, chưa chủ động vươn lên thoát nghèo. Đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo ở cơ sở còn mỏng, phần lớn kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ, trong khi chính sách, văn bản hướng dẫn có nhiều nội dung mới, thường xuyên điều chỉnh, dẫn đến quá trình tham mưu triển khai thực hiện còn lúng túng; công tác phối hợp giữa một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa thật sự chặt chẽ; chất lượng thông tin báo cáo ở một số nơi chưa đầy đủ, chưa phản ánh kịp thời khó khăn, vướng mắc từ cơ sở. Thiên tai, dịch bệnh thường xuyên xảy ra, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và đời sống của người dân, khó khăn cho công tác giảm nghèo.
Một số nhiệm vụ, giải pháp triển khai thực hiện giai đoạn 2026–2030
Giai đoạn 2026–2030, yêu cầu đặt ra đối với công tác giảm nghèo của tỉnh Thái Nguyên không chỉ là tiếp tục giảm số hộ nghèo, mà quan trọng hơn là giảm nghèo thực chất, bền vững, hạn chế tái nghèo và phát sinh nghèo mới. Mục tiêu giảm nghèo cần gắn chặt với phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo đảm an sinh xã hội, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng và nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản của người dân. Để phấn đấu thực hiện hoàn thành và hoàn thành vượt mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo cần tập trung triển khai các giải pháp sau:
- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp đối với công tác giảm nghèo; xác định giảm nghèo là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, của hệ thống chính trị, phân công trách nhiệm rõ ràng, tổ chức kiểm tra, giám sát thường xuyên. Nâng cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền địa phương đối với cong tác giảm nghèo.
- Đổi mới cách tiếp cận giảm nghèo theo hướng lấy người dân làm trung tâm, hộ nghèo là chủ thể của quá trình thoát nghèo. Chính sách hỗ trợ không nên dừng lại ở hỗ trợ trực tiếp, ngắn hạn, mà phải tạo động lực để người dân tự vươn lên. Cần đẩy mạnh tuyên truyền, vận động, khơi dậy ý chí tự lực, tự cường, thay đổi tư duy sản xuất, khắc phục tâm lý trông chờ, ỷ lại.
- Tập trung nâng cao thu nhập cho người dân thông qua phát triển sinh kế bền vững. Ưu tiên hỗ trợ các mô hình sản xuất phù hợp với điều kiện từng vùng, gắn với lợi thế địa phương, sản phẩm chủ lực, sản phẩm OCOP, chuỗi liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ. Cùng với đó là tăng cường hỗ trợ tín dụng chính sách, chuyển giao khoa học kỹ thuật, đào tạo nghề, tạo việc làm tại chỗ và mở rộng cơ hội cho lao động đi làm việc ở ngoài tỉnh, ngoài nước theo hợp đồng.
- Tiếp tục đầu tư, hoàn thiện hạ tầng thiết yếu ở vùng khó khăn, nhất là giao thông, thủy lợi, trường học, cơ sở y tế, nhà văn hóa, nước sinh hoạt và hạ tầng số. Phân bổ nguồn lực tập trung, tránh dàn trải, ưu tiên công trình cấp thiết, có tác động trực tiếp đến đời sống người dân và khả năng phát triển kinh tế của địa phương.
- Nâng cao chất lượng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác giảm nghèo; cập nhật cơ sở dữ liệu hộ nghèo, hộ cận nghèo đầy đủ, chính xác, liên thông; hỗ trợ người nghèo tiếp cận internet, dịch vụ số cơ bản, dịch vụ công trực tuyến; duy trì hỗ trợ y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, vệ sinh môi trường để thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng.
- Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo, nhất là cấp xã, thôn, tổ dân phố; tăng cường tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ, cập nhật chính sách mới, nâng cao kỹ năng tổ chức thực hiện và công tác tham mưu.
- Tăng cường kiểm tra, giám sát, công khai, minh bạch trong thực hiện chính sách giảm nghèo. Việc rà soát, bình xét hộ nghèo, hộ cận nghèo phải bảo đảm dân chủ, khách quan, đúng quy định, có sự tham gia giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể và cộng đồng dân cư. Các nguồn lực hỗ trợ cần được quản lý chặt chẽ, sử dụng hiệu quả, đúng mục đích, đúng đối tượng, đúng quy định của pháp luật.
Giảm nghèo bền vững là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài. Những kết quả đạt được trong giai đoạn 2021–2025 là nền tảng quan trọng để Thái Nguyên tiếp tục triển khai hiệu quả các chính sách trong giai đoạn 2026–2030. Với quyết tâm của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận của Nhân dân, cùng với cách làm linh hoạt, sáng tạo, sát thực tiễn, công tác giảm nghèo của tỉnh sẽ tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần xây dựng Thái Nguyên phát triển nhanh, bao trùm, bền vững, không để ai bị bỏ lại phía sau.