PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ GIAI ĐOẠN 2026-2030: KHƠI DẬY ĐỘNG LỰC MỚI CHO NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN THÁI NGUYÊN
Ngày 24/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1128/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình tổng thể về phát triển kinh tế tập thể giai đoạn 2026-2030 không chỉ tạo hành lang pháp lý quan trọng để khu vực kinh tế tập thể phát triển mạnh mẽ hơn, mà còn mở ra cơ hội để các địa phương khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, xây dựng các mô hình hợp tác xã hiện đại, chuyên nghiệp và bền vững. Đối với Thái Nguyên - địa phương có thế mạnh về nông nghiệp, lâm nghiệp, sản phẩm OCOP và kinh tế hợp tác, đây là thời điểm thuận lợi để tạo bước chuyển mới, đưa kinh tế tập thể trở thành động lực quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn.
Khẳng định vai trò của kinh tế tập thể trong giai đoạn phát triển mới
Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, khu vực kinh tế tập thể luôn được Đảng và Nhà nước xác định là một thành phần kinh tế quan trọng, cùng với kinh tế nhà nước trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Từ Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể đến Luật Hợp tác xã năm 2023 và mới đây là Quyết định số 1128/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã tạo nên hệ thống chính sách đồng bộ, thống nhất nhằm thúc đẩy khu vực kinh tế tập thể phát triển thực chất, hiệu quả và bền vững.
Quyết định số số 1128/QĐ-TTg ngày 24/6/2026 phê duyệt Chương trình tổng thể về phát triển kinh tế tập thể giai đoạn 2026-2030
Điểm đáng chú ý của Chương trình tổng thể phát triển kinh tế tập thể giai đoạn 2026-2030 là chuyển mạnh tư duy phát triển từ "tăng số lượng" sang "nâng cao chất lượng", lấy hiệu quả hoạt động, lợi ích của thành viên và khả năng thích ứng với cơ chế thị trường làm tiêu chí đánh giá. Chương trình hướng tới xây dựng các hợp tác xã hoạt động chuyên nghiệp, có năng lực quản trị hiện đại, ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ và chuyển đổi số, tham gia sâu vào chuỗi giá trị, nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Đồng thời, Chương trình cũng nhấn mạnh việc huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị; hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ; phát triển nguồn nhân lực; tăng khả năng tiếp cận tín dụng, đất đai, khoa học công nghệ; thúc đẩy liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Đây đều là những nội dung có ý nghĩa thiết thực đối với các địa phương có thế mạnh về sản xuất nông nghiệp như Thái Nguyên.
Kinh tế tập thể Thái Nguyên - những bước chuyển đáng ghi nhận
Nhìn lại những năm qua có thể thấy, kinh tế tập thể của tỉnh Thái Nguyên đã có nhiều chuyển biến tích cực. Nếu trước đây nhiều hợp tác xã chỉ hoạt động ở quy mô nhỏ, chủ yếu cung cấp dịch vụ đầu vào phục vụ sản xuất thì hiện nay đã xuất hiện ngày càng nhiều hợp tác xã hoạt động theo mô hình doanh nghiệp, có khả năng tổ chức sản xuất hàng hóa quy mô lớn, liên kết với doanh nghiệp, ứng dụng công nghệ hiện đại và xây dựng thương hiệu sản phẩm. Đến nay, toàn tỉnh có 1.013 hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp (320 hợp tác xã trồng trọt, 174 hợp tác xã chăn nuôi, 11 hợp tác xã lâm nghiệp, 05 hợp tác xã nuôi trồng thủy sản, 03 hợp tác xã nước sạch nông thôn, 500 hợp tác xã dịch vụ tổng hợp), 06 liên hiệp hợp tác xã, 353 tổ hợp tác nông nghiệp, 1.070 trang trại và 288 làng nghề đã được công nhận. Đây là nguồn lực rất quan trọng để tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo hướng tập trung, quy mô lớn và nâng cao giá trị gia tăng. Trong lĩnh vực nông nghiệp, các hợp tác xã đang hoạt động trên hầu hết các ngành hàng chủ lực như chè, cây ăn quả, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản, dược liệu, sản xuất giống, chế biến nông sản và dịch vụ nông nghiệp. Nhiều hợp tác xã đã đầu tư máy móc hiện đại, xây dựng nhà xưởng chế biến, áp dụng các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ, ISO, HACCP..., từng bước đáp ứng yêu cầu của các thị trường khó tính.

HTX chè Hảo Đạt – Mô hình HTX điển hình của tỉnh Thái Nguyên về sản xuất và chế biến chè
Đặc biệt, tỉnh Thái Nguyên hiện là một trong những địa phương có phong trào phát triển sản phẩm OCOP mạnh trong khu vực trung du và miền núi phía Bắc. Đến nay, toàn tỉnh có 598 sản phẩm OCOP được công nhận, trong đó có: 13 sản phẩm OCOP 5 sao cấp quốc gia, 118 sản phẩm OCOP 4 sao và 467 sản phẩm OCOP 3 sao (Thái Nguyên hiện đứng thứ ba cả nước về số lượng sản phẩm OCOP 5 sao và là một trong hai địa phương đầu tiên có sản phẩm OCOP 5 sao thuộc lĩnh vực du lịch). Hầu hết các sản phẩm OCOP đều có sự tham gia tích cực của các hợp tác xã trong tổ chức sản xuất, kiểm soát chất lượng, xây dựng thương hiệu và xúc tiến thương mại. Có thể kể đến những mô hình tiêu biểu như Hợp tác xã chè Hảo Đạt, Hợp tác xã Hương Vân Trà, Hợp tác xã chè La Bằng,... Đây đều là những đơn vị tiên phong trong ứng dụng công nghệ, sản xuất theo tiêu chuẩn an toàn, xây dựng thương hiệu chè Thái Nguyên gắn với truy xuất nguồn gốc và phát triển du lịch trải nghiệm. Nhiều sản phẩm đã có mặt tại các hệ thống siêu thị lớn trong nước và từng bước tiếp cận thị trường quốc tế. Không chỉ riêng ngành chè, nhiều hợp tác xã trong lĩnh vực miến dong, dược liệu, mật ong, sản phẩm từ tre nứa, chế biến nông lâm sản cũng đang từng bước khẳng định vị thế trên thị trường. Thông qua mô hình hợp tác xã, người dân được hỗ trợ về giống, vật tư, kỹ thuật, vốn vay và đặc biệt là đầu ra sản phẩm, góp phần nâng cao thu nhập và ổn định đời sống. Những kết quả trên cho thấy khu vực kinh tế tập thể đang từng bước khẳng định vai trò là cầu nối giữa nông dân với doanh nghiệp, giữa sản xuất với thị trường, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại.

Một số sản phẩm OCOP được chế biến từ chè shan tuyết khu vực các xã phía Bắc của tỉnh Thái Nguyên
Cơ hội lớn từ Quyết định số 1128/QĐ-TTg
Việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1128/QĐ-TTg đúng vào thời điểm Luật Hợp tác xã năm 2023 chính thức đi vào cuộc sống được xem là cú hích quan trọng để khu vực kinh tế tập thể phát triển mạnh mẽ hơn trong giai đoạn tới.
Đối với Thái Nguyên, cơ hội càng rõ nét khi tỉnh vừa hoàn thành việc sắp xếp đơn vị hành chính, mở rộng không gian phát triển, hình thành vùng nguyên liệu lớn hơn, đa dạng hơn và có điều kiện thuận lợi để tổ chức lại sản xuất trên quy mô liên vùng. Khu vực phía Bắc của tỉnh sở hữu diện tích đất lâm nghiệp lớn, hệ sinh thái phong phú cùng nhiều sản phẩm đặc hữu như chè Shan tuyết, miến dong, dược liệu, mật ong, sản phẩm từ tre nứa... Đây là nền tảng để hình thành các hợp tác xã chuyên ngành gắn với phát triển chuỗi giá trị, chế biến sâu và xây dựng thương hiệu.Trong khi đó, vùng trung tâm và phía Nam của tỉnh tiếp tục phát huy lợi thế về chè đặc sản, cây ăn quả, rau an toàn, chăn nuôi tập trung và phát triển du lịch nông thôn. Việc liên kết giữa các hợp tác xã với doanh nghiệp chế biến, doanh nghiệp phân phối và các đơn vị lữ hành sẽ tạo ra những chuỗi giá trị mới, góp phần nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm nông nghiệp.
Một trong những định hướng quan trọng của Quyết định số 1128/QĐ-TTg là đẩy mạnh chuyển đổi số trong khu vực kinh tế tập thể. Đây cũng chính là vấn đề mà nhiều hợp tác xã của Thái Nguyên đang từng bước triển khai thông qua việc ứng dụng phần mềm quản lý, bán hàng trên sàn thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc bằng mã QR, thanh toán không dùng tiền mặt và quảng bá sản phẩm trên các nền tảng số. Chuyển đổi số không chỉ giúp giảm chi phí quản lý mà còn mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao tính minh bạch của sản phẩm, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng. Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, đây sẽ là chìa khóa giúp các hợp tác xã nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia hiệu quả hơn vào chuỗi giá trị trong nước cũng như quốc tế.
Để Chương trình tổng thể về phát triển kinh tế tập thể giai đoạn 2026-2030 đi vào cuộc sống, bên cạnh sự quan tâm của Nhà nước, rất cần sự chủ động đổi mới của chính các hợp tác xã. Mỗi hợp tác xã cần mạnh dạn thay đổi tư duy quản trị, lấy thị trường làm định hướng, lấy chất lượng sản phẩm làm nền tảng, tăng cường liên kết với doanh nghiệp, ứng dụng công nghệ số và không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh. Đồng thời, các địa phương cần tiếp tục quan tâm tạo điều kiện về đất đai, hạ tầng, tín dụng, đào tạo nguồn nhân lực và cải cách thủ tục hành chính để khu vực kinh tế tập thể phát triển thuận lợi.
Với những chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước cùng sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, tin tưởng rằng kinh tế tập thể tỉnh Thái Nguyên sẽ tiếp tục có bước phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn 2026-2030, trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển nông nghiệp hiện đại, nông thôn văn minh và nâng cao đời sống người dân. Không chỉ góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, khu vực kinh tế tập thể còn đóng vai trò quan trọng trong xây dựng nền nông nghiệp sinh thái, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và hội nhập quốc tế, góp phần đưa Thái Nguyên trở thành trung tâm phát triển nông nghiệp chất lượng cao của vùng trung du và miền núi phía Bắc.